Tin tức

Luật Đo đạc và bản đồ: Khung pháp lý quan trọng thúc đẩy ngành đo đạc và bản đồ phát triển lên một tầm cao mới trong cuộc CMCN 4.0 ở Việt Nam 12/10/2018


Ngày 14/ 6/2018, tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Đo đạc và bản đồ và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Việc Quốc hội ban hành Luật Đo đạc và bản đồ là một bước tiến vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, làm cơ sở pháp lý để thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước, thúc đẩy ngành đo đạc và bản đồ phát triển trong thời gian tới. Luật gồm 9 chương với 61 Điều, trong đó có nhiều nội dung mới được quy định cụ thể để đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.




Sự cần thiết ban hành Luật Đo đạc và bản đồ

Hoạt động đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản, đặc biệt quan trọng, làm nền tảng để triển khai các nghiên cứu khoa học về trái đất, cung cấp thông tin, dữ liệu, sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; phục vụ quy hoạch, quản lý lãnh thổ, giám sát tài nguyên, môi trường; phòng chống thiên tai và cứu hộ cứu nạn; góp phần bảo vệ và khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia, góp phần nâng cao dân trí. Các sản phẩm đo đạc, bản đồ và dữ liệu thông tin địa lý được sử dụng rộng rãi trong hoạt động hàng ngày của đời sống xã hội.

Công tác đo đạc và bản đồ ở Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời. Từ thời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đã cho thành lập bản đồ cả nước phục vụ quản lý lãnh thổ. Ngay sau khi thành lập nước tháng 9 năm 1945, cơ quan bản đồ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ địa hình quân sự bảo đảm thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Ngày 14 tháng 12 năm 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 444/TTg thành lập Cục Đo đạc và Bản đồ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Ngày 14 tháng 12 được lấy là ngày truyền thống của ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam.

Gần 60 năm qua, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam ngày càng phát triển, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hoàn thành nhiều công trình đo đạc và bản đồ cơ bản quan trọng phục vụ phát triển đất nước như hệ tọa độ quốc gia, hệ độ cao quốc gia, hệ trọng lực quốc gia, các mạng lưới đo đạc quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, hệ thống bản đồ địa hình quốc gia, hệ thống bản đồ địa chính phục vụ quản lý đất đai...

Từ những năm 90 của thế kỷ trước cùng với sự đổi mới của đất nước, công tác đo đạc và bản đồ đã bắt đầu thực hiện quá trình đổi mới mạnh mẽ công nghệ thu nhận và xử lý dữ liệu với việc ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh GNSS, công nghệ đo vẽ bản đồ số, công nghệ thu nhận và xử lý ảnh viễn thám để thành lập hệ thống bản đồ địa hình quốc gia phủ trùm cả nước, từng bước đáp ứng nhiệm vụ quản lý của các bộ, ngành, địa phương và nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn, công tác quản lý nhà nước và tổ chức triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ trong thời gian vừa qua còn một số tồn tại như thiếu sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý và triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ; Hoạt động đo đạc và bản đồ còn chồng chéo, lãng phí; Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương chưa phù hợp; Chính sách phát triển, quản lý công trình hạ tầng đo đạc chưa đồng bộ; Việc quản lý, cung cấp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ còn bất cập; Cơ chế chính sách về hoạt động đo đạc bản đồ chưa đổi mới, chưa theo kịp với thành tựu của khoa học công nghệ hiện nay, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0;  Chưa có cơ chế rõ ràng để thúc đẩy chính sách xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ.

Những hạn chế đó do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là chưa có sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật về đo đạc và bản đồ. Hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản làm cơ sở, nền tảng để triển khai các hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành, chỉ được quy định tại Nghị định số 45 năm 2015 của Chính phủ, trong khi đó, một số hoạt động đo đạc bản đồ chuyên ngành đã được quy định rải rác trong các văn bản Luật như: Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Giao thông, Luật Xuất bản...

Trong bối cảnh như vậy, việc xây dựng một đạo luật để quản lý thống nhất, có hiệu quả hoạt động đo đạc và bản đồ, thúc đẩy phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia (NSDI) là yêu cầu cấp bách và xuất phát từ thực tiễn khách quan.

Quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc xây dựng luật

Trên quan điểm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, không tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn với các luật đã ban hành và tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm chủ quyền quốc gia, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Luật Đo đạc và bản đồ được xây dựng trên các nguyên tắc xuyên suốt sau:

Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động đo đạc và bản đồ, quy định hành lang pháp lý, chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đo đạc và bản đồ, xây dựng cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ quốc gia đồng bộ, hiện đại nhằm đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ đầy đủ, chính xác, kịp thời, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, quản lý tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao dân trí, làm nền tảng để phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

Đo đạc và bản đồ cơ bản là hoạt động điều tra cơ bản làm nền tảng sử dụng chung, phục vụ phúc lợi công cộng phải được Nhà nước quản lý, đầu tư và tổ chức triển khai thực hiện. Đầu tư cho đo đạc và bản đồ cơ bản là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, cần phải đi trước một bước. Thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ cơ bản là nền tảng để phát triển các sản phẩm đo đạc và bản đồ chuyên ngành.

Huy động nguồn lực xã hội phát triển kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho sản xuất và phát triển các ứng dụng thông tin địa lý phục vụ nâng cao dân trí, tiến bộ xã hội; sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ vào hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của đời sống.

Tăng cường hội nhập quốc tế về đo đạc và bản đồ.

Các chủ trương, chính sách lớn được thể chế hoá trong Luật Đo đạc và bản đồ

Trên cơ sở những quan điểm, nguyên tắc nêu trên, Luật đã tập trung thể chế hóa các chủ trương, chính sách lớn như: (i) Đầu tư phát triển hạ tầng đo đạc, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý quốc gia tiên tiến, đồng bộ, hội nhập quốc tế, kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh; quản lý tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai và cứu hộ, cứu nạn, ứng phó biến đổi khí hậu; (ii) Ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ theo hướng tiên tiến, hiện đại, thống nhất và đồng bộ. Tập trung vào các công nghệ hiện đại như công nghệ định vị vệ tinh, công nghệ ảnh số, viễn thám, công nghệ GIS; (iii) Xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia phục vụ Chính phủ điện tử, quản lý xã hội thông minh, hạn chế sự chồng chéo, trùng lắp trong tổ chức triển khai, thúc đẩy chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu, đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0; (iv) Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ; tham gia hoạt động đo đạc và bản đồ; tiếp cận, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao dân trí.

Nội dung chính của Luật Đo đạc và bản đồ

Luật Đo đạc và bản đồ gồm 61 điều thể hiện trong 9 chương với các nội dung chính.

Chương I. Những quy định chung (gồm 9 điều từ Điều 1 đến Điều 9). Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; nguyên tắc cơ bản và chính sách của Nhà nước đối với đo đạc và bản đồ; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đo đạc và bản đồ; hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế về đo đạc và bản đồ; tài chính cho hoạt động đo đạc và bản đồ.

Về phạm vi điều chỉnh, Luật quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản; hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành; chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ; công trình hạ tầng đo đạc; thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; điều kiện kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ.

Về đối tượng áp dụng, Luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ; khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ hoặc có hoạt động khác liên quan đến đo đạc và bản đồ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về giải thích từ ngữ, đã đưa vào Luật định nghĩa một số thuật ngữ chuyên môn liên quan đến nội dung Luật theo quan điểm mới, đảm bảo chính xác, dễ hiểu và phù hợp với sự phát triển của công nghệ.

Có 5 nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đo đạc và bản đồ được sử dụng thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ nội dung Luật.
Về chính sách của Nhà nước về đo đạc và bản đồ, Luật quy định đầu tư phát triển hoạt động đo đạc và bản đồ đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Nhà nước ưu tiên đầu tư hoạt động đo đạc và bản đồ phục vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển và ứng dụng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ theo hướng tiên tiến, hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ.

Chương II. Hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản (gồm 12 điều từ Điều 10 đến Điều 21). Chương này quy định về nội dung hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản; Hệ thống số liệu gốc đo đạc quốc gia, hệ tọa độ quốc gia, hệ độ cao quốc gia và hệ trọng lực quốc gia; hệ thống số liệu các mạng lưới đo đạc quốc gia; dữ liệu ảnh hàng không; dữ liệu ảnh viễn thám; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và hệ thống bản đồ địa hình quốc gia; xây dựng, vận hành, cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và thành lập, cập nhật hệ thống bản đồ địa hình quốc gia; đo đạc và bản đồ về biên giới quốc gia; thể hiện biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ; đo đạc và bản đồ về địa giới hành chính; yêu cầu, nguyên tắc và các trường hợp chuẩn hóa địa danh; trách nhiệm chuẩn hóa địa danh, sử dụng địa danh đã được chuẩn hóa.

Luật quy định chi tiết nội dung cụ thể về từng loại hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản, trách nhiệm của bộ, ngành, UBND cấp tỉnh trong tổ chức triển khai các hoạt động này. Theo đó đã phân cấp giao cho UBND cấp tỉnh tổ chức triển khai xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1:2.000, 1:5.000 phần đất liền, khu vực đảo, quần đảo, cửa sông, cảng biển, nhằm tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc đáp ứng kịp thời các dữ liệu phục vụ công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về hệ thống số liệu các mạng lưới đo đạc quốc gia, dữ liệu viễn thám và quy định về cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, bản đồ địa hình quốc gia.

Chương III. Hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành (gồm 10 điều từ Điều 22 đến Điều 31). Chương này quy định về nội dung hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành; hệ thống số liệu các mạng lưới đo đạc cơ sở chuyên ngành; đo đạc và bản đồ quốc phòng; đo đạc, thành lập bản đồ địa chính; thành lập bản đồ hành chính; đo đạc, thành lập hải đồ; đo đạc, thành lập bản đồ công trình ngầm; đo đạc, thành lập bản đồ hàng không dân dụng; đo đạc, thành lập bản đồ phục vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; thành lập tập bản đồ; đo đạc, thành lập các loại bản đồ chuyên ngành khác.

Trên thực tế có rất nhiều hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành, Luật Đo đạc và bản đồ chỉ quy định cụ thể nội dung các hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành đặc trưng theo lát cắt dọc từ lòng đất (đo đạc, thành lập bản đồ công trình ngầm), mặt đất và mặt nước (đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, hải đồ) đến khoảng không (đo đạc, thành lập bản đồ hàng không dân dụng). Các hoạt động này liên quan nhiều đến chủ quyền lãnh thổ, quan hệ quốc tế, đến yêu cầu quản lý và người dân.

Hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành hiện nay do nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện, Luật quy định nội dung, trách nhiệm tổ chức triển khai bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp, phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành.

Đồng thời, Luật quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc đo đạc, thành lập bản đồ phục vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy định này là rất cần thiết nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường.

Chương IV. Chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ (gồm 03 điều từ Điều 32 đến Điều 34). Chương này quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động đo đạc và bản đồ; kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo sử dụng trong hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ.

Luật quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật dùng trong hoạt động đo đạc và bản đồ phải đảm bảo đồng bộ, thống nhất và phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ; các phương tiện đo sử dụng trong hoạt động đo đạc và bản đồ phải được kiểm định, hiệu chuẩn.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành quy định, tiêu chí về chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kiểm tra, thẩm định, nghiệm thu chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ.

Chương V. Công trình hạ tầng đo đạc (gồm 04 điều từ Điều 35 đến Điều 38). Chương này quy định về các loại công trình hạ tầng đo đạc; xây dựng, vận hành, bảo trì công trình hạ tầng đo đạc; sử dụng mốc đo đạc; bảo vệ công trình hạ tầng đo đạc.

Luật quy định có 4 loại công trình hạ tầng đo đạc cơ bản và có 3 loại công trình hạ tầng đo đạc chuyên ngành; trách nhiệm xây dựng, vận hành, bảo trì, quản lý, sử dụng và bảo vệ hệ thống công trình hạ tầng đo đạc đó. Tổ chức, cá nhân được tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì công trình hạ tầng đo đạc.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về bảo vệ công trình hạ tầng đo đạc.

Chương VI. Thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia (gồm 12 điều từ Điều 39 đến Điều 50). Chương này quy định về: hệ thống thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ; lưu trữ, bảo mật, cung cấp, trao đổi, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; quy định chung về hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; dữ liệu không gian địa lý quốc gia; dịch vụ về dữ liệu không gian địa lý quốc gia; sử dụng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; Cổng thông tin không gian địa lý Việt Nam; yêu cầu đối với xuất bản bản đồ; hoạt động xuất bản bản đồ.

Luật quy định cụ thể về thành phần của hệ thống thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; thành phần của cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ quốc gia và trách nhiệm triển khai. Luật quy định những loại thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ được cung cấp rộng rãi cho tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài; những trường hợp được miễn, giảm phí lệ phí.

Trong chương này có 06 điều quy định về hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia từ Điều 43 đến Điều 48 là những vấn đề rất mới lần đầu tiên được pháp luật quy định. Đây là những quy định khung nhằm thúc đẩy việc triển khai xây dựng, phát triển NSDI của Việt Nam, một hạ tầng thông tin rất quan trọng phục vụ cho Chính phủ điện tử, xây dựng đô thị thông minh, chia sẻ, dùng chung dữ liệu, tránh chồng chéo lãng phí, đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0.

Tại Hoa Kỳ, năm 1994, Tổng thống Bill Clinton đã ban hành sắc lệnh về điều phối việc xây dựng, quản lý Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia của Hoa Kỳ. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên trên thế giới về NSDI. Mô hình NSDI của Hoa Kỳ được nhiều nước trên thế giới làm căn cứ áp dụng cho quốc gia mình. Theo đó, hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia là tập hợp các chính sách, tổ chức, thể chế, tiêu chuẩn, công nghệ, dữ liệu và nguồn lực nhằm chia sẻ và sử dụng hiệu quả dữ liệu không gian địa lý trong phạm vi cả nước.

NSDI cung cấp nguồn thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời để trợ giúp ra quyết định phát triển đất nước, phục vụ chính phủ điện tử, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước, xây dựng và quản lý xã hội thông tin, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; nâng cao dân trí; thúc đẩy kinh doanh hiệu quả. NSDI thúc đẩy quá trình chia sẻ, dùng chung dữ liệu không gian địa lý từ các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân thông qua việc thống nhất tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và khả năng tương tác của dữ liệu trên Internet; tránh đầu tư chồng chéo, trùng lặp, tránh lãng phí ngân sách.
Dữ liệu đo đạc và bản đồ cơ bản là dữ liệu khung làm nền tảng để xây dựng dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

Hiện nay, các nước phát triển và nhiều nước khác trên thế giới đã xây dựng NSDI, nhiều quốc gia đã ban hành Luật Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia. Trong khu vực ASEAN, các nước Malaixia, Inđônêxia, Singapo, Philippin, Thái Lan đã xây dựng NSDI.

Từ những lý do trên, Luật có 6 điều quy định về NSDI và giao Thủ tướng Chính phủ điều phối hoạt động của NSDI là rất cần thiết.
Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về lưu trữ, bảo mật, cung cấp, trao đổi, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

Chương VII. Điều kiện kinh doanh dịch vụ; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động đo đạc và bản đồ (gồm 05 điều từ Điều 51 đến Điều 56). Chương này quy định về giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; điều kiện cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ; thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đo đạc và bản đồ; quyền và nghĩa vụ của tổ chức hoạt động đo đạc và bản đồ; quyền và nghĩa vụ của cá nhân hành nghề độc lập về đo đạc và bản đồ.

Kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ là kinh doanh có điều kiện được cấp phép theo Danh mục hoạt động đo đạc và bản đồ phải có giấy phép và phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của Chính phủ. Mỗi tổ chức được cấp một giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, thời hạn của giấp phép do Chính phủ quy định, tối thiểu là 5 năm và được gia hạn.

Giấy phép cấp cho nhà thầu nước ngoài khi có quyết định trúng thầu hoặc được chọn thầu của chủ đầu tư, trong đó có hoạt động đo đạc và bản đồ; có lực lượng kỹ thuật, phương tiện, thiết bị, công nghệ đo đạc và bản đồ phù hợp với hồ sơ dự thầu đã trúng thầu hoặc hồ sơ được chọn thầu. Giấy phép phải thể hiện địa bàn hoạt động và có thời hạn theo thời gian thực hiện nội dung về đo đạc và bản đồ trong gói thầu.

Chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ là văn bản xác nhận năng lực hành nghề, do cơ quan có thẩm quyền cấp cho cá nhân có đủ điều kiện theo quy định và có giá trị trong cả nước. Mỗi chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ cấp cho một hoặc một số nội dung hành nghề theo Danh mục hành nghề đo đạc và bản đồ; công dân Việt Nam hành nghề đo đạc và bản đồ độc lập phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với công việc thực hiện; chứng chỉ có thời hạn tối thiểu là 05 năm và được gia hạn. Chứng chỉ được phân thành 2 hạng dựa theo trình độ đào tạo, thời gian, kinh nghiệm tham gia hoạt động đo đạc và bản đồ.

Việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ giữa Việt Nam với các nước được thực hiện theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết Danh mục hoạt động đo đạc và bản đồ phải có giấp phép; thời hạn, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, bổ sung, cấp lại, cấp đổi, thu hồi giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; Danh mục hành nghề đo đạc và bản đồ; quy định về việc sát hạch kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức pháp luật; quy định thời hạn, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại, cấp đổi, thu hồi chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ; nội dung, thời điểm đăng tải thông tin về tổ chức được cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ.

Chương VIII. Quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ (gồm 06 điều từ Điều 57 đến Điều 59). Chương này quy định về nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ bao gồm trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp; thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ.

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ; hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ trong cả nước. Bộ có trách nhiệm xây dựng chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ, chiến lược phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và tổ chức triển khai các chiến lược đó sau khi được Chính phủ phê duyệt.

Chương IX.Điều khoản thi hành (gồm 02 điều từ Điều 60 đến Điều 61). Chương này quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

Với các nội dung nêu trên, Luật Đo đạc và bản đồ cơ bản đã giải quyết được những tồn tại, vướng mắc, đảm bảo quản lý thống nhất hoạt động đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước; đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu sản phẩm đo đạc và bản đồ kịp thời, đầy đủ, chính xác đáp ứng yêu cầu quản lý của bộ, ngành, địa phương, yêu cầu sử dụng của tổ chức, cán nhân.

Luật Đo đạc và bản đồ là khung pháp lý quan trọng thúc đẩy ngành đo đạc và bản đồ phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng các yêu cầu được kỳ vọng trong việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam.

Nguồn tin:Theo monre.gov.vn

VĂN BẢN TRỰC TUYẾN
QUẢN LÝ VB&HSCV
HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁN BỘ